Thành phố Ninh Bình- Vóc dáng một đô thị ngời sáng trên vùng đất ken dầy vết chân lịch sử nơi ngã ba non nước hữu tình

Email In PDF.

altThành phố Ninh Bình là thành phố trẻ, đang trên đường quy hoạch và phát triển. Phía sau thành phố trẻ là những vỉa tầng lịch sử lấp lánh những sự kiện "đau thương mà anh dũng, lam lũ mà kiên cường" của đất và người nơi đây suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ thời đại các vua Hùng.

1- Dưới con mắt các nhà lịch sử, khảo cổ học và địa lý học, thành phố Ninh Bình nằm trong vòng cung núi đá vôi Hoa Lư ở phía tây, một dải sơn hệ kéo dài từ Sơn La-Hoà Bình ra biển Đông. Và vòng cung nước do sông Đáy phía đông bắc, sông Chanh phía tây, sông Vạc ở phía nam, xa hơn chút nữa là sông Hoàng Long phía tây bắc. Sông Vân Sàng chảy giữa lòng thành phố. Những dải núi trong vòng cung Hoa Lư hình thành cách ngày nay khoảng 250-300 triệu năm. Trải qua bao "cuộc bể dâu" của các đợt vận động tạo sơn và quá trình "biển tiến", "biển lùi", phù sa được lắng đọng, do sông và bể cần cù hàng ngàn năm bồi đắp, cùng với tác động của con người, tạo nên diện mạo, địa hình thành phố Ninh Bình như ngày nay. Dải núi Sơn La-Hoà Bình chạy về đến Hoa Lư, thì trầm xuống bãi bể cổ, rồi lại như cố nhô lên, tạo thành những quả núi một giống như những "hòn non bộ" thiên tạo độc đáo trên nền địa chất khá bằng phẳng, nhưng cũng có những vùng cao thấp chênh lệch, dốc thoai thoải từ tây sang đông, từ bắc xuống nam, tạo nên các cánh đồng cao, trũng, sông, hồ và đầm nước của vùng đất đô thị Ninh Bình.

2- Người Tiền sửsơ sử đã có mặt ở vùng đất nay là thành phố Ninh Bình chưa? Đó còn là câu hỏi cần có những công trình nghiên cứu và khảo sát trên quy mô lớn tiếp, mới có lời đáp chắc chắn; bởi đến nay, chúng ta chưa có nhiều bằng chứng chắc chắn điều đó. Song, các nhà khảo cổ học đã có những kết quả nghiên cứu ban đầu về sự hiện diện của người Việt cổ trong các hang động vùng núi phía tây nam và tây bắc thành phố Ninh Bình ngày nay thuộc khu vực hang động Tràng An, Ninh Mỹ, Ninh Giang, Trường Yên (huyện Hoa Lư), và ngay ở núi Sệu, phường Ninh Khánh, thuộc thời đại đá mới (trên dưới 10.000 năm), đậm nét nhất là từ 3000 đến 4000 năm cách ngày nay.   

3- Có một điều rất rõ ràng rằng, những dấu ấn lịch sử của các thời đại Đinh-Lê, Lý, Trần và cả những thời kỳ tiếp sau đó, còn khá đậm đặc trên vùng đất thành phố. Nơi đây chứa đựng nhiều di tích lịch sử, văn hoá của nhiều thời đại.

Vùng đất ngã ba sông Đáy-Sông Vân Sàng, trên bến dưới thuyền, người dân nơi đây xưa kia sinh sống bằng nghề nông đánh bắt cá, dần dần hình thành các chòm ấp dân cư ban đầu, rồi các chợ buôn bán, trao đổi nông sản, mà sản vật là tôm cá, sản phẩm của nghề chài lưới của cư dân sống dựa chủ yếu vào nuôi trồng lương thực, gia cầm và đánh bắt thuỷ, hải sản của vùng ven sông, biển. Biển lúc này còn vỗ sóng dưới chân núi Non Nước, Hồi Hạc, Cánh Diều, Kỳ Lân. Chưa có đê, nên mới có cánh đồng bãi và bến thuyền mà sau này có các địa danh như Đồng Bến; Và những làng trồng dâu, dệt vải mang tên La (La = lụa); làng trồng cói dệt chiếu như làng Chẹo (Chẹo = chiếu); Làng chèo thuyền thiện nghệ mang tên Thiện Trạo (giỏi chèo). Huyền thoại "Nàng Tiên Cá" với chàng Linh Lang nghèo khổ đánh bắt cá trên sông, biển, ven núi Non Nước, chính là ảnh xạ đời sống, sinh hoạt xã hội và tình cảm cư dân sông nước trên đất này-một phương pháp tư duy cổ, mượn yếu tố thần linh để lý giải nghề sống bằng cách đánh bắt cá, mở mang chợ cá trong đời sống hiện thực. Thời kỳ ấy cách ta ước chừng vài ngàn năm. Căn cứ vào sách "Thuỷ kinh chú", con sông Đáy và sông Vân Sàng đã hợp thành ngã ba sông trên đất này chí ít cũng từ thời Tiền Hán (từ năm 206 Tr.cn). Nhiều cứ liệu lịch sử, chúng ta biết, năm 44 S.cn, khi Hán Mã Viện truy bức cánh quân tướng Đô Dương của Hai Bà Trưng chạy vào Thanh Hoá, từ Đại La, viên tướng lừng danh này của nhà Hán đã chỉ huy chiến  thuyền từ sông Hồng, vào sông Đáy, sông Vân Sàng, sông Trinh Nữ, qua Thần Phù, đục núi "Tạc Khẩu" để tiến vào Thanh Hoá. Như vậy, ngã ba sông Đáy - Vân Sàng đã là giao lộ thuỷ trọng yếu từ đầu công nguyên, khi giao thông lúc đó và cho đến thế kỷ XV-XI, chủ yếu bằng đường thuỷ, để vào vùng Thanh Nghệ, hoặc ngược lại, ra đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt ở thế kỷ thứ X, ngã ba sông Đáy và sông Vân Sàng là nơi tập kết, xuất phát và cũng là địa điểm khải hoàn của các đạo thuỷ binh Đinh-Lê chinh Bắc, phạt Nam. Cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm 982 của Lê Đại Hành là cuộc Nam tiến đầu tiên của Người Việt mở mang bờ cõi phía Nam trong lịch sử dân tộc cũng do những chiến thuyền thiện nghệ phát xuất từ ngã ba sông này. Không chỉ những cứ liệu lịch sử, mà bằng phương pháp nghiên cứu địa danh học, folklore học, huyền thoại, huyền tích, thần phả, câu đối của các đền miếu trên vùng đất thành phố, chúng ta càng thấy rõ điều đó. Cũng từ thế kỷ X, Thiện Trạo là đại bản doanh thuỷ sư nhà Đinh (theo Nguyễn Tử Mẫn). Đến nhà Trần, Phúc Thành đã là cảng sầm uất, dù lúc này bể vẫn chưa lùi xa chân núi Non Nước, Cánh Diều (đọc thơ “Chinh Chiêm Thànhxe "Chiªm Thµnh" hoàn châu bạc Phúc Thành cảng” của vua Trần Anh Tông khi đánh Chiêm Thành về lên núi đề thơ ở núi Dục Thuý càng rõ). Cho đến thế kỷ XV, đất bồi đã ra xa hơn, nhưng biển vẫn còn vỗ sóng ven vùng đất phía nam cách thành phố Ninh Bình ngày nay chưa đầy hai chục km theo đường chim bay (ranh giới ngăn biển là đê Hồng Đức). Tuy nhiên, rẻo đất phía tây nam thành phố ngày nay kéo dài từ Ninh Phúc đến Thần Đầu (Khánh Hoà), Văn Giáp (Khánh An) đã được bồi đắp từ thời Trần.

4- Từ thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) cho dựng đại bản doanh và kho Dục Thuý làm quốc khố và chỉ đạo cuộc lấn biển lần thứ nhất trên vùng đất Ninh Bình. Con đê Hồng Đức ra đời năm 1471 là kết quả của cuộc lấn biển đầu tiên của người dân Ninh Bình mà vùng đất thành phố Ninh Bình ngày nay là điểm tập kết sức người, sức của, hoạch định tiến ra biển cả của nhà Lê, của nhân dân Ninh Bình. Buổi đầu, nhà Lê dựng thành nơi đây còn là hào luỹ, có trồng trúc, dâu và tre bao quanh. Đến thế kỷ XVI-XVII, vùng đất này trở thành trấn lỵ Vân Sàng của đất Thanh Hoa ngoại, mà trung tâm là làng Đại Đăng (nay là vùng đất phường Thanh Bình)xe "Lª".

Dân cư tụ hội ngày một đông, dần dần hình thành các chòm ấp ở phía tây bắc và đông nam sông Vân Sàng. Sau này, chính là làng Phúc Am, Đại Đăng, Khương Lộc - những làng ấp và kế tiếp là phố xá đầu tiên của thuở sơ khai trấn trị Vân Sàng. Có điều chắc chắn là, từ thế kỷ XVI, nơi đây trở thành lỵ sở Vân Sàng, trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của trấn Thanh Hoa ngoại. Khi đó, "Lỵ sở Vân Sàng ở gần sông, là chỗ đông người tụ họp, kẻ buôn, người đánh cá, phố phường đông đúc, cảnh đẹp, nhân vật nhiều”(1).

alt

Núi Dục Thúy

Thành phố Ninh Bình sầm uất như ngày nay là cả một quá trình dài lâu tụ cư và đô thị hoá nhiều trăm năm trên vùng đất này. Thời Hậu Lê, nơi đây còn là phủ lỵ của phủ Trường Yên, có phường Thuỷ Cơ,xe "C¬" là nơi đóng tàu, thuyền; Bấy giờ có tổng An Đăng với các thôn, phường: An Đăng, Đại Đăng, Phúc Chỉnh, Phúc Trì, Cổ Loan, Bích Đào, Phúc Am và phường Khương Lộc. Sau đó có thêm Vạn Chài, Trực Độ... Đặc biệt, phường Khương Lộc (khu vực phường Nam Bình), có chợ Khương Lộc buôn bán sầm uất hơn cả chợ Vân Sàng lúc bấy giờ. Tỉnh thành Ninh Bình lúc này ở áp phía tây nam chân núi Non Nước, chạy dài theo bờ sông Vân Sàng, đến gần đền Vân Thị (phường Thanh Bình). Phía tây bờ sông Vân Sàng là chợ Vân Sàng (nay là chợ Rồng). Cùng với phố Vân Sàng, thì Khương Lộc là phố phường đầu tiên của Trấn lỵ Ninh Bình. Ngôixe "Ng "xe "Ng " đền Khương Lộcchứng tích còn lại của phường Khương Lộc xưa.Song từ khi chợ Vân Sàng phát triển mạnh (khoảng từ nửa cuối thế kỷ thứ XIX đến đầu thế kỷ XX, thì phường Khương Lộc đã nhường vị trí trung tâm thương mại của đô thị Ninh Bình cho chợ Vân Sàng. Nhưng phải khẳng định rằng, sự xuất hiện và đô hội của phường Khương Lộc có trước cả phố chợ Vân Sàng.

Theo các tài liệu địa lý, lịch sử cũ, dưới triều Nguyễn,xe "NguyÔn" năm Gia Longxe "Gia Long" thứ 13 (1814), thành tỉnh Ninh Bình được xây dựng ở khu vực nay là công viên Núi Thúy, xây bằng gạch khá kiên cố.

Sau khi đặt được ách thống trị ở nước ta (1883), thực dân Phápxe "Ph¸p" cho mở mang xây dựng, trên cơ sở của thành tỉnh Ninh Bình cũ, thành một đô thị khá sầm uất ở vùng cực nam đồng bằng Bắc bộ lúc bấy giờ và lấy đây là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Bình. Tất cả các công sở, phố xá, chợ quán...đều nằm ở phía đông đường 10 (cũ), tức đường Lêxe "Lª" Đại Hành ngày nay, giữa đường sắt Bắc-Nam với Sông Vân Sàng (tương đương với phường Thanh Bình hiện nay), trung tâm là khu phố Cha Sáuxe "Cha S¸u" (gần trùng với phố Lýxe "Lý" Thái Tổxe "Lý Th¸i Tæ" hiện nay).

5- Thành phố Ninh Bình hình thành trên một vùng đất cổ sinh, phong cảnh non nước hữu tình.

Địa hình thị xã Ninh Bình tương đối bằng phẳng, là vùng đồng bằng có núi. Núi tô điểm và làm duyên cho thành phố. Núi lớn nhất là núi Cánxe "C¬"h Diều, Núi Lớ (xã Ninh Nhất), còn hai núi nhỏ là núi Non Nước và núi Kỳ Lân. Núi Hồi Hạc, đã bị san phá hết, đến nay chỉ còn dấu vết một số mỏm đá lộ đầu ở phía tây núi Non Nước, cách độ hơn 100m. Đất thành phố Ninh Bình là đất phù sa cổ, có tầng phèn tiềm tàng ở độ sâu (Ps), hầu hết là đất thịt nhẹ và một vùng nhỏ đất cát pha (Bích Đào, Ninh sơn, Ninh Phúc). Đất ở đây thích hợp trồng lúa và hoa màu, cây ăn quả, nhất là các xã ngoại thành. Nhưng hiện nay phố phường, công sở mọc lên nhiều, diện tích cấy trồng chỉ còn tập trung ở các xã ngoại thành và một số diện tích nhỏ thuộc phường Tân Thành, Nam Thành, Bích Đào và xã Ninh Nhất.

Thành phố Ninh Bình không lớn, địa hình lại khá bằng phẳng, có bốn con sông chảy qua (sông Đáy, sông Vân Sàng, sông Vạc, sông Tranh), nên việc tưới tiêu nước rất thuận lợi, ít bị nạn úng lụt đe doạ. Cáxe "C¬"c dòng sông này cũng góp phần điều hoà sinh thái và cảnh quan môi trường cho thành phố.

Khí hậu, thời tiết thành phố Ninh Bình cũng không có gì biến động đặc biệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa, tương đối ôn hoà hơn so với các địa phương phía tây bắc và tây nam tỉnh.

Dân cư của thành phố ngày nay, đặc biệt các phường nội thị, là dân cư của nhiều tỉnh thành trong nước về công tác, sinh sống và lập nghiệp. Các xã và phường Ninh Sơn, Ninh Phong, Ninh Khánh, Ninh Nhất, đa số vẫn là nhân dân đã cư trú lâu đời ở đây cư tụ. Dân cư nhìều vùng miền trong nước sinh sống đan xen trên địa bàn, do vậy phong tục, tập quán cũng đa dạng, phong phú.

6- Nước ta, tỉnh ta có nhiều núi đẹp. Nhưng hiếm có núi nào đẹp và thơ như núi Non Nước. Sông Vân- núi Thuý không chỉ là vẻ đẹp vùng quê non nước hữu tình mà còn là là biểu tượng theo tâm linh là "âm-dương", thiêng liêng, cao khiết, khắc sâu tâm khảm và trở thành biểu tượng của bản lĩnh anh dũng, kiên trung, niềm tự hào của bao thế hệ về chiến công chống giặc ngoại xâm của nhân dân Ninh Bình.

Núi Non nước nên thơ, bởi thế các hoàng đế, tao nhân mặc khách, mỗi khi đi qua đều lưu nét mực thỏ hào. Thơ khắc kín sườn non, đỉnh núi. Con chim trả khổng lồ mang đầy mình thơ và đôi cánh thơ.  Phan Huy Chúxe "Phan Huy Chó" nhận xét rằng:“Đây là nơi non kỳ nước lạ, cảnh trí hết sức đẹp đẽ”. Núi Non Nước không chỉ là bảo tàng thơ, văn thiên nhiên vĩ đại bậc nhất nước ta, mà còn quý giá vô cùng vì nó còn là bảo tàng chữ Nôm sớm nhất khắc thạch ở Việt Nam! 

Thật là kỳ diệu, lạ lùng, một thành phố có 4 trái núi mang tên 4 con vật: Con chim trả, (núi Non Nước - Dục Thuý sơn), núi Hồi Hạc, núi Cánxe "C¬"h Diều và núi Kỳ Lân. Kỳ Lân là một con vật biểu tượng cho điềm lành, phúc lành, thái bình thịnh trị. Núi Non Nước, một di tích không chỉ là di tích văn hoá mà còn là một di tích lịch sử vô giá về nhiều mặt, một bảo tàng thiên nhiên thơ, văn hơn 700 năm, cần được đặc biệt giữ gìn và tôn tao, khẩn trương đề nghị Nhà nước công nhân là Di tích lịch sử - văn hoá đặc biệt cấp quốc gia, tiến tới đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hoá nhân loại. Và nên chăng xây lại Tháp Linh Tế trên núi Non Nước của thời Lý-Trần?

7- Thành phố Ninh Bình ngày một mở rộng về diện tích và dân cư trên nền tảng lịch sử và văn hoá của vùng đất ken dầy vết chân lịch sử. Các nhà hoạch định phát triển đô thị Ninh Bình cần đặc biệt quan tâm nền tảng lịch sử và văn hoá của vùng đất và truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân địa phương. Cần giữ gìn tốt những di sản hiện hữu và có biện pháp thích ứng phục hồi những giá trị văn hoá quý giá đã bị mai một, những địa danh đã đi vào lịch sử như Đại Đăng, Khương Lộc, Văn Miếu, Trực Độ, Phúc Đăng, Đại Phong... bằng cách có các tên phố, phường, công trình...trên đất thành phố.

Trong không gian thành phố tương lai được mở rộng, quy hoạch, cần đặc biệt quan tâm đến Tứ trấn Linh Thần (Bốn Thần Linh trấn ngự) từ thời Kinh đô Hoa Lư (thế kỷ X), hoặc có điểm muộn hơn. Đó là: Phía Bắc: Đền Thần Trấn Vũ ở Thiên Tôn; Phía Tây: Thần Cao Sơn trên đỉnh núi Bái Đính; Phía Nam: Đền thần Cao Sơn ở Xuân Vũ (Ninh Vân); Phía Đông: Đền thần Cao Sơn trên núi Cánh Diều. Tứ trấn Linh Thần cũng trong Tứ giác nước của bốn con sông: Hoàng Long, Đáy, Bến Đang và Vân Sàng.

Thành phố Ninh Bình trăm mến ngàn yêu của chúng ta đang vươn lên toàn diện với dáng phi mã tiên phong. Dáng ngựa chồm lên hôm nay mang trong mình ưu thế sức mạnh tiềm tàng của 4000 năm lịch sử của vùng đất Non Nuớc hữu tình, ken dầy vết chân lịch sử trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc!

(1) Phan Huy Chú:xe "Phan Huy Chó" Lịch triều hiến chương loại chí.

Trương Hán Vũ

thiet ke ong nhua tai tphcm mua bán đàn guitar tai tphcm du an Can ho Scenic Valley phu my hung mua container văn phòng gia re thiet ke ong nhua tai tphcm mua bán đàn guitar tai tphcm du an Can ho Scenic Valley phu my hung mua container văn phòng gia re