Bang giao Việt - Hoa thời Đinh - Tiền Lê và bài học lịch sử - Trương Hán Vũ

Email In PDF.

Từ khi lập nước, tổ tiên ta đã có sự giao hảo với các nước láng giềng. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta không tách rời lịch sử bang giao. Bởi thế, tìm hiểu lịch sử dân tộc, không thể không tìm hiểu lịch sử bang giao. Do điều kiện địa lý và xã hội, cùng nhiều điều kiện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật khác nhau, bang giao trong lịch sử của nước ta, chủ yếu là bang giao với Trung Hoa. Thế kỷ X, đặc biệt, thời Đinh-Tiền Lê (968-1009) là thời kỳ bang giao

 mạnh mẽ, toàn diện nhất với Trung Hoa so với các thời kỳ trước đó.

1.Trong lịch sử bang giao của dân tộc ta thì mối quan hệ bang giao với phong kiến Trung Hoa đặc biệt quan trọng, bởi Trung Hoa là nước rộng lớn, hùng mạnh, phát triển sớm nhất ở châu Á. Các triều đại phong kiến Trung Hoa không thời kỳ nào không nhằm xâm chiếm, đồng hóa dân tộc Đại Việt. Song, với truyền thống anh hùng, bất khuất, thông minh và tài trí tuyệt vời của tổ tiên ta, cả về quân sự và ngoại giao, các đế chế Trung Hoa đã phải ngậm ngùi, cay đắng di ngôn cho bề tôi rằng “Dân Giao Châu hay làm loạn, chỉ nên ràng buộc (ki mi) mà thôi” (Lời vua Nam Hán căn dặn Lý Tiến và Lý Khắc Chính khi sang trấn giữ Giao Châu).

Trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú viết: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn, mà những khi ứng thủ lại rất quan hệ, cho nên nghĩa tu hiếu (việc giao hiếu) chép ở kinh Xuân Thu, đạo giao lân chép ở Hiền truyện (sách Mạnh Tử), chính là đem lòng tin thực mà kết giao, người có quyền trị nước phải cẩn thận” (NXB KHXH, HN, 1977, T3, tr.186). Lời nhận định ấy đã được đúc kết khi nước ta trở thành một nước độc lập và giao hảo với các nước láng giềng, nhất là phong kiến Trung Hoa, trong ngót một ngàn năm.

Với đặc điểm về vị trí địa lý, nước ta ba mặt Bắc, Tây, Tây Bắc và Nam tiếp giáp với các nước láng giềng. Đặc biệt, phía Bắc tiếp giáp với Trung Hoa đại lục, là một quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển rất sớm trong lịch sử. Từ thời nhà Hạ, Thương, Chu (trước Cn) Trung Hoa đã là một đế chế rộng lớn, hùng mạnh. Các vương triều Trung Hoa đã kết hợp chặt chẽ quan hệ nô lệ và quan hệ phong kiến trong nước, đồng thời mở rộng đất đai ra bên ngoài lãnh thổ. Các hoàng đế Trung Hoa tự cho mình là “thiên tử”, đế chế của họ là “thiên triều”, cho mình là trung tâm của vũ trụ (Trung Quốc), là lớn mạnh (Hạ), dân tộc Hán là tinh hoa; Hoa Hạ làm chủ, là thống soái, còn các nước xung quanh chỉ là Nhung, Địch, Man, Di. Các “con trời” luôn tự cho mình cái quyền “thế thiên hành đạo”. Trong lịch sử, người Hoa Hạ đã chinh phục được hầu hết các nước nhỏ, trở thành một quốc gia phong kiến có cương vực rộng lớn và quân đội hùng mạnh vào bậc nhất trong suốt mấy ngàn năm đối với các nước trong khu vực. Bởi vậy, suốt mấy ngàn năm đó, không một triều đại phong kiến Trung Hoa nào không coi Đại Việt là phiên thuộc, không ngừng tìm cách xâm chiếm, đồng hóa cả về dân tộc và văn hóa. Từ cuối thế kỷ thứ III Tr.Cn, Tần Thủy Hoàng phát 50 vạn tinh binh ròng rã 10 năm chinh phục nước ta, rồi sau này các cuộc xâm lăng của nhà Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương, Tùy, Đường…suốt từ cuối thế kỷ thứ I Tr.Cn đến năm 938 S.Cn đều minh chứng điều đó. Sau khi nước ta giành được độc lập bằng chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền năm 938 trên sông Bạch Đằng, tiếp theo các triều đại Bắc Tống, Nam Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã tìm bấu vào mọi cớ để cất quân xâm lược nước ta. Từ chiến thắng Bạch Đằng, 938, nước ta giành độc độc lập, việc bang giao với các nước lân cận chính thức được các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Lê-Trịnh, Tây Sơn và nhà Nguyễn được mở ra trong gần một ngàn năm, cho đến khi thực dân Pháp xâm lược, triều đình nhà Nguyễn buộc phải ký các hiệp ước đầu hàng vào năm 1884.

2. Sau khi đánh tan quân Nam Hán, vào mùa Xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, nơi đô cũ của Thục Phán An Dương Vương. Ngô Vương Quyền mất (944), các con ông tranh giành ngôi báu. Năm 954, con Ngô Quyền là Ngô Xương Văn lên nối ngôi, xưng là Nam Tấn Vương, liền sai sứ sang xin mệnh của vua Nam Hán là Lưu Thanh phong là Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm đô hộ. Lúc này, các tướng thần và các hào trưởng khắp nơi trong nước không chịu thần phục Nam Tấn Vương, nhất là sau khi Ngô Xương Xí còn nhỏ tuổi lên nối nghiệp vua cha (965), họ liền chiếm cứ các châu huyện, hình thành loạn 12 sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 sứ quân, lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở Hoa Lư. Tình hình ở phương Bắc lúc bấy giờ cũng có biến động lịch sử to lớn. Triệu Khuông Dẫn dẹp yên loạn “Ngũ đại thập quốc”, lập nên triều đại nhà Tống. Năm 971, nhà Tống đánh dẹp xong nhà Nam Hán. Biên giới nhà Tống lúc này sát kề phía bắc nước ta. Nhận thấy nhà Tống là một đế chế mới thành lập, binh hùng, tướng mạnh, nhà Đinh, muốn giữ được độc lập, tự chủ, nhất thiết phải bang giao với nhà Tống. Năm 972, vua Đinh Tiên Hoàng sai con trai trưởng là Đinh Liễn sang nhà Tống xin phong vương, giả thần phục một đế chế đang hoành hành ở phía bắc. Năm 974, Tống Thái Tổ sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương. Lại phong cho Đinh Liễn làm Kiểm hiệu thái sư Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ với lời chế sách vẻ vỗ về và đề cao dòng họ Đinh để mưu thu phục nhân tâm nước Nam ta. Năm 975, vua Tống lại sai sứ là Cao Bảo Tự và Vương Ngạn Phù sang phong cho Đinh Tiên Hoàng là Nam Việt Vương, Đinh Liễn làm Khai phủ nghi đồng tam ty kiểm hiệu Thái sư Giao Chỉ quận vương. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đánh giá rất cao về lần phong này của nhà Tống; “Nước ta đời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc, nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội ở nhà Minh Đường. Rồi bị Triệu Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam Việt Vương, chỉ được sánh với chư hầu của Trung Quốc, chứ chưa từng được coi là một nước, đến sau nội thuộc vào nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận, huyện. Đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ sắc phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước” (LTHCLC, Sđd, Tr.186).

Năm 979, vua Đinh và con trưởng là Đinh Liễn bị sát hại. Đinh Toản mới sáu tuổi nối ngôi. Một số trung thần nanh vuốt của vua Đinh sợ Lê Hoàn chiếm ngôi nhà Đinh nên chống lại đều bị Lê Hoàn giết chết. Nhà Tống thấy đây là cơ hội “ngàn năm có một” để thôn tính nước ta, vua Tống gửi tối hậu thư đe dọa triều đình nhà Đinh đang trong cảnh “tang gia bối rối”. Sứ Tống là Lư Đa Tốn mang chiếu thư sang dụ vua nước ta đầu hàng, lời lẽ rất xấc xược, hiếu chiến, đại lược: Ta muốn “mở đường ngu tối cho ngươi, ban bố giáo hóa của ta, ngươi có theo hay không? Ngươi không nên nấp vào xó tối để ta khó chịu, để ta phải dùng đến kế cắt thịt chặt xương, giết hết nước ngươi, sau hối không kịp…Ngươi nên quy phục, không nên vơ lấy tội. Hiện nay ta đang sửa soạn chiêng trống, nếu quy phục ta sẽ tha, trái lệnh ta sẽ đánh…” (LTHCLC, Sđd). Vận nước đứng trước hiểm họa xâm lăng của nhà Tống đã hiện hữu thực sự. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được sự hậu thuẫn của Thái Hậu Dương Vân Nga, các tướng thần tôn ông lên ngôi Hoàng đế lãnh đạo quân dân ta đương đầu với quân xâm lược. Năm 980, vua Lê giả viết thư đứng tên Vệ Vương Đinh Toàn gửi cho vua Tống với lời lẽ khiêm nhường, phép tắc và xin vua Tống ban phong để làm kế hòa hoãn, có thời gian chuẩn bị kháng chiến. Vua Tống nhận thư, yêu cầu mẹ con Vệ Vương Đinh Toàn phải sang chầu quy phục. Không thấy thư hồi đáp, biết nước Đại Cồ Việt không chịu cho mẹ con Đinh Toàn sang quy phục, vua Tống liền xuống chiếu quyết đánh nước Nam. Lời lẽ “Chiếu chinh phạt” của vua Tống hết sức ngạo mạn: “…Tuy đã chịu phục tùng làm phiên thuộc nhưng cứ tu luyện binh lính, có ý quật cường. Lễ thờ phụng nước trên lẽ nào như thế? Vậy ta bất đắc dĩ phải trừ tội gian để cứu dân, phải cử binh qua đánh để khai hóa xử mọi rợ này. Nay cho bọn Tôn Toàn Hưng xuất quân qua đánh…” (An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961,Tr 64). Năm 981, giặc Tống xâm lược đã bị quân dân Đại Cồ Việt đánh bại trên sông Bạch Đằng và Chi Lăng (Lạng Sơn) dưới sự chỉ huy tài ba của vua Lê Đại Hành. Sau thắng lợi oanh liệt, năm 983, vua Lê Đại Hành chủ động cho sứ sang nhà Tống giao hảo để giữ gìn hòa bình cho đất nước, nhưng không hề đề cập đến chuyện trao trả hai viên tướng Tống là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân do ta bắt đang giam giữ. Vua Tống bắt buộc phải sai sứ sang phong cho Lê Hoàn chức Tiết trấn (Tiết độ sứ ở phiên trấn). Lời lẽ trong chế phong lại thay đổi, ngợi ca và đề cao Lê Hoàn một cách kỳ lạ: “Lê Hoàn tư chất nghĩa dũng, bẩm tính trung thuần, được lòng quốc dân, kính cẩn giữ lễ phiên thần…Nay Lê Hoàn mặc dầu xa cách vẫn tỏ lòng thành kính, xin lãnh tiết mao…Vậy cho Lê Hoàn giữ chức nguyên nhung, ngang với các bậc hầu tước, cai quản các nước rợ và tôn trọng sứ mệnh của Trời. Nay gia thêm hàm Kim Tử Quang Lộc đại phu, Kiểm hiệu Thái úy sứ, tri Tiết Đô đốc chư quân sự”. Dã tâm xâm lược không đạt được, lại bị quân dân ta đánh cho tan tác, bắt sống hai tướng, nhà Tống muối mặt, bẽ bàng, giữ thể diện, buộc phải ca ngợi và đề cao vua Lê, chính là đề cao quân dân Đại Cồ Việt và công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Dùng võ lực không thành, nhà Tống đã phải dùng đến kế sách ngoại giao để chờ thời cơ khác, chứ không dễ gì chúng từ bỏ dã tâm xâm lược và đồng hóa dân tộc ta thâm căn cố đế hơn một ngàn năm trước chưa thực hiện được. Năm 985, Lê Đại Hành sai sứ sang lĩnh Tiết trấn. Lời lẽ của vua Tống lần này không ngạo mạn như các lần trước mà mềm dẻo khác thường! Đến năm sau, năm 986, tức là 5 năm sau chiến tranh kết thúc, ta mới trao trả hai viên tướng Tống bị bắt làm tù binh. Vua Tống sai sứ sang phong cho vua Lê chức Tiết độ sứ. Đến năm 988, nhà Tống lại sai sứ sang phong cho Lê Hoàn chức Kiểm hiệu Thái úy. Năm 990, vua Tống sai sứ sang phong cho Lê Hoàn làm Đặc tiến. Năm 993 và năm 997, hai lần vua Tống sai sứ sang phong Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương rồi Nam Bình Vương kiêm Thị trung. Rõ ràng, Lê Đại Hành không những là một anh hùng võ lược lừng danh bởi hai cuộc xuất chinh “phá Tống bình Chiêm” oanh liệt, mà còn là một nhà chiến lược ngoại giao tài danh, vẫn lấy giao hảo, hòa hiếu với “người khổng lồ” phía bắc để giữ gìn hòa bình và độc lập dân tộc, lại nâng vị thế nước ta lên một tầm cao mới trước đó chưa từng có. Lê Hoàn đã không ít hơn một lần từ chối không lạy sứ thần nhà Tống khi đến kinh đô Hoa Lư. Vua nói thác là do “đi đánh giặc ngã ngựa bị đau chân không quỳ được”. Đón tiếp sứ thần Tống thì vua Lê cho nhà sư Pháp Thuận giả làm lái đò để ứng đối, làm cho sứ Tống ngỡ người dân nước Nam ai cũng tài giỏi, xuất khẩu thành chương như thế thì không dễ gì đồng hóa được họ! Và vua Lê còn nhắn qua sứ giả về tâu với vua Tống “Từ lần sau chế phong không phải cử sứ sang tận Hoa Lư xa xôi, hiểm trở, nhọc mệt đến sứ thần, mà cứ giao ở đầu cõi (biên giới) cũng được”! Vua Tống chuẩn y lời tấu của sứ giả theo ý của vua nước Việt! Năm 1005, Lê Đại Hành mất. Lê Long Đĩnh lên nối ngôi. Hai năm sau, năm 1007, Lê Long Đĩnh sai sứ sang dâng vua Tống một con tê ngưu và xin vua Tống ban cho vua Lê một bộ áo giáp và một mũ trụ trang sức bằng vàng. Lại xin cho người dân Đại Cồ Việt được sang buôn bán ở Ung Châu (nay là Nam Ninh). Biết rõ vua nước Nam xin áo giáp, mũ trụ là ngầm ý sẵn sàng cầm quân chinh chiến và cho dân sang buôn bán đồng nghĩa với việc cho do thám Việt nắm tình hình động tĩnh của “Thiên triều”; nhưng trước vị thế của Đại Cồ Việt đang vững vàng, không thể thoái thác, nên vua Tống đành bất đắc dĩ chấp nhận như ý nguyện của “bề tôi” thỉnh cầu!

3. Muốn tồn tại yên ổn bên cạnh một người hàng xóm khổng lồ-đế chế hùng mạnh và tàn bạo, thâm hiểm như đế chế Trung Hoa, trong ngót một ngàn năm ấy, tổ tiên ta, bên cạnh huy động sức mạnh toàn dân tộc, kể cả sức mạnh thần thánh (âm phù), để giành, giữ độc lập, là cả một chiến lược, sách lược ngoại giao cực kỳ cam go, thông minh, cương nhu, nhưng cũng vô cùng cương quyết để bảo toàn non sông gấm vóc. Tổ tiên ta đã vận dụng sáng tạo, tài giỏi và mềm mại nguyên tắc “Thần phục giả hiệu, độc lập thực sự” với sách lược “Nội xưng đế, ngoại xưng vương” để bang giao hòa hiếu với “thiên triều”. Khi giành được độc lập từ các triều đại phương Bắc, vì bị hơn một ngàn năm đô hộ, tuy không bị đồng hóa dân tộc như nhiều dân tộc khác trong khu vực hay trên thế giới, nhưng nước ta ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Hoa. Các vương triều Đại Việt lấy chữ Hán làm văn tự chính thức, lấy học thuyết Khổng Mạnh làm hệ tư tưởng, tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình bộ máy nhà nước Trung Hoa. Vấn đề này cần nhìn nhận theo hướng tích cực là, cha ông ta đã thông minh, khéo léo, biết “gạn đục khơi trong”, đánh đuổi xâm lược, không chấp nhận sự đồng hóa cưỡng bức nhưng “tự giác” học và tiếp thu những tinh hoa của văn minh phương Bắc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn thế nữa, cha ông ta đã dùng “vũ khí” của địch để đánh lại địch khi chúng ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa trong xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức xã hội, phép thi cử, xây dựng quân đội, kinh tế… Từ lý luận “bách gia chư tử” vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh đất nước, các vua nước ta đã đưa con thuyền Đại Việt hưng thịnh, văn hóa dân tộc đậm đà bản sắc “Nam phương”, để tiếp tục sẵn sàng nghênh địch mỗi khi họa xâm lăng hiện hữu.

Việc xin thần phục “thiên triều” biểu hiện trong việc các vua Đại Việt dâng sớ xin “Thiên tử” phong vương, đổi lại, ta phải thần phục, triều cống các sản vật quý hiếm như lông chim trĩ, voi, ngà voi, tê giác, sừng tê giác, trầm hương, kỳ nam, vải vóc, tơ lụa, cây quả, vàng bạc, châu báu, ngọc trai…thậm chí cả những người thợ tài giỏi, khéo tay, thầy bói, thầy địa lý và mỹ nữ, trong đó có cả các Công chúa con vua….Và có thời kỳ phải tiến cống cả người bằng vàng, bạc cho Thiên triều. Tuy nhiên, các triều đại phong kiến Trung Hoa không phải đã “hào phóng” xuống chiếu sắc phong “ân tứ”. Từ chỗ “Thiên triều” chỉ công nhận vị đứng đầu nước ta như một người đứng đầu quận, huyện của họ, đến chỗ được công nhận là một phiên thuộc chỉ được giao dịch với các quan vùng biên, tiến tới được đứng vào hàng chư hầu, triều hội ở đại điện Minh Đường, hiện diện trong các buổi dâng lễ chúc tụng “Thiên tử”, với tư cách là người đứng đầu một quốc gia, được công nhận là quốc vương. Điều đó là kết quả hàng ngàn đời tranh đấu của cha ông ta. Nhiều quốc gia trong khu vực, không phải nước nào cũng được Thiên triều “ban phát” cho đặc ân đó! Từ sau khi Ngô Vương Quyền giành được độc lập, năm 938, mãi 237 năm sau, năm 1175, vua Cao Tông nhà Tống mới chính thức phong cho vua nước ta là Lý Anh Tông (1138-1175) làm An Nam Quốc vương. Song, có một điều vô cùng lý thú là, mềm dẻo, khôn khéo để được phong vương tước, nhưng những ấn vàng, hoặc bạc mạ vàng, được “thiên triều” ban cho vua Đại Việt lại được cất kỹ, chỉ dùng “hạ triện” vào các văn bản ngoại giao với với hoàng đế hay các quan lại Trung Hoa mà thôi. Còn trong nước, các vua Đại Việt xưng đế và vẫn “chế tác” và sử dụng loại ấn tín riêng để “hạ triện” theo tên hiệu vua và niên hiệu riêng trong nước. Các đời hoàng đế và quan chức Trung Hoa đều biết điều đó, nhưng cũng đành phải “ngó lơ”, cho đó là việc “nội bộ” của nước Nam!

4. Hai triều đại Đinh-Tiền Lê tuy không phải là triều đại mở đầu lịch sử bang giao giữa nước ta với Trung Hoa, nhưng là hai triều đại có tần suất bang giao nhiều nhất, trở thành một chiến lược ngoại giao song song với quân sự để giữ gìn độc lập, chủ quyền và toàn vẹn đất nước trước một đế chế Tống thống nhất toàn Trung Quốc, hùng mạnh về quân sự, tiến bộ nhiều mặt về kinh tế, văn hóa và thể chế xây dựng nhà nước. Hai triều đại Đinh-Tiền Lê đã có sách lược “cương nhu” tùy thời và với phương châm hết sức khôn khéo “trong xưng đế, ngoài xưng vương” để giữ hòa hiếu hai dân tộc. Các văn biểu dâng lên “Thiên triều” đều hết sức nhún nhường nhưng lại toát lên ý chí cả dân tộc quyết bảo vệ Tổ quốc! Các vua nước Đại Cồ Việt ý thức mình là Hoàng đế của trăm họ để sánh ngang với các Hoàng đế “thiên triều” đúng như tinh thần bài Thơ Thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” (Sông núi nước Nam vua Nam ngự). Nhưng lại thần phục giả hiệu, từ ngôn ngữ bang giao, qua các biểu cáo, lời lẽ ứng xử ngoại giao, lễ vật dâng cống và thái độ ôn hòa, cương nhu phải phép đã làm cho nhà Tống không thể “quở trách” “sự ăn ở” của các vua ta. Song khi kẻ địch muốn dùng sức mạnh “lấy thịt đè người” thì các vua nước ta cũng huy động tổng thể sức mạnh dân tộc để đập tan mưu đồ đen tối đó của chúng. Lấy sức mạnh và ý chí của cả dân tộc để giành chiến thắng trên chiến trường, buộc địch phải “nói chuyện” bằng con đường ngoại giao. Đồng thời lấy ngoại giao làm cứu cánh để giữ hòa hiếu, tránh xảy ra chiến tranh không đáng có. Chúng ta luôn nêu cao chính nghĩa và hòa hiếu; vận dụng ngay tư tưởng Khổng-Mạnh của Trung Hoa vào ứng xử giữa nước lớn với nước nhỏ (nước nhỏ thờ nước lớn, chư hầu thờ Thiên triều), giữa Nhân-Nghĩa-Lễ -Trí-Tín để chỉ rõ cho nơi từng là xứ sở ra đời các học thuyết ấy! Một bài học nữa cũng cần nêu lên là, các vương triều Đại Cồ Việt luôn coi bang giao với phương Bắc là một mặt trận không chỉ đơn thuần là ngoại giao mà là một thế trận đấu tranh kiên trì, khôn khéo và hết sức linh hoạt mà sau này Thái úy Lý Thường Kiệt thời Lý đúc kết “Dùng biện sĩ để bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn máu mủ mà bảo an được tông miếu”. Đó là sách lược ngoại giao luôn biết mình biết người, “mưu phạt tâm công” như Nguyễn Trãi hiến kế cho Lê Lợi sau này đánh đuổi giặc Minh, chính là bài học rút ra từ lịch sử thẫm máu của dân tộc.

Đọc lại những trang sử oanh liệt của dân tộc ta trong tiến trình dựng nước và giữ nước thời Đinh-Tiền Lê, chúng ta thấy cha ông ta đã tuyệt vời trong võ công giáng trả đích đáng kẻ thù xâm lược, làm cho chúng “về đến nước còn tim đập, chân run”, phải nhận thức được chân lý hiển nhiên được đúc kết trong bài Thơ Thần là “Sông núi nước Nam vua Nam ngự/ Rành rành ghi rõ ở sách trời/Lũ giặc cớ sao dám xâm phạm/Chúng bay tất bị đánh tơi bời”. Nhân đây cũng xin nói thêm, bài Thơ Thần này theo Lĩnh Nam chích quái lại ra đời vào thời Tiền Lê, khi Lê Đại Hành đánh quân Tống xâm lược năm 981, đến thời Lý Thường Kiệt đánh quân Tống năm 1076 chỉ là “vận dụng” lại mà thôi.

Một dân tộc đã từng hàng ngàn năm bị đô hộ mà không bị đồng hóa mà còn quật khởi phi thường, lần sau vũ bão hơn trăm ngàn lần trước; Một dân tộc không chỉ có võ công oanh liệt mà còn có cả một chiến tuyến bang giao được coi trọng không kém chiến tuyến quân sự với nhiều bài học sâu sắc, viết thành điển chương và lý thú còn được lưu sử sách từ ngàn xưa tới nay, chỉ có thể là một dân tộc bất diệt-Dân tộc Việt Nam! Những bài học bang giao của cha ông ta trong công cuộc dựng nước và giữ nước từ hơn ngàn năm trước, đến nay vẫn còn mang tính thời sự sâu sắc và nóng hổi!

Tiết Lập Xuân Đinh Dậu, 2017