Nhớ lại và cảm nhận sau 25 năm tỉnh nhà tái lập

Email In PDF.

altNgày mồng một tháng tư đã đến! Một cái mốc lịch sử, một sự kiện quan trọng trong quá trình lịch sử phát triển của tỉnh nhà đã đến! Tôi có may mắn liên tục công tác gần 37 năm gắn bó với cơ quan lãnh đạo của tỉnh, cả trước, trong hợp tỉnh và sau khi tỉnh nhà tái lập; là 1 trong 3 ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy từ Hà Nam Ninh chuyển về và là 1 trong 5 ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời do Trung ương chỉ định khi tái lập tỉnh, trực tiếp tham gia và chứng kiến cả ngày hợp tỉnh và ngày tái lập tỉnh nhà. Nhưng sao mà nhanh thế! Mới ngày nào tái lập tỉnh mà đã 25 năm rồi! 16 năm hợp tỉnh sao cảm thấy lâu vậy mà 25 năm tái lập lại cảm thấy nhanh

 thế nhỉ!

Còn nhớ, sau đại thắng mùa xuân 1975, trong khí thế tưng bừng, phấn khởi nước nhà thống nhất, Bắc Nam sum họp sau bao năm chiến đấu, hy sinh gian khổ, theo quyết định của Trung ương tỉnh nhà hợp nhất với tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh từ ngày 3/2/1976. Trong 16 năm hợp tỉnh, trong ngôi nhà chung, cán bộ, nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhiều lĩnh vực là tỉnh dẫn đầu cả nước. Nhưng cũng như nhiều tỉnh hợp nhất khác, qua thực tiễn ngày càng bộc lộ những khó khăn mà trước hết là bất cập giữa quy mô địa bàn quá rộng (22 huyện, thành, thị, trên 3 triệu dân) với năng lực, điều kiện, cơ sở vật chất, trình độ, phương tiện quản lý, chỉ đạo, điều hành làm cho tỉnh không thật sát cơ sở, thể hiện phần nào trong câu ca dân gian “Tỉnh dài, huyện rộng, xã to. Tỉnh lo việc tỉnh mình lo việc mình”. Cùng với cơ chế quan liêu bao cấp kéo dài đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển. Mặt  khác cũng phải nói rằng do tính chất lịch sử, truyền thống, đặc điểm tâm lý, tình cảm lâu đời gắn bó trên địa bàn dân cư vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến sự hòa nhập trong tỉnh hợp nhất. Những băn khoăn, những tâm tư trong cán bộ, nhân dân dẫn đến nguyện vọng muốn được chia tách tỉnh, nhất là sau khi một số tỉnh đã được chia tách. Tái lập tỉnh đã trở thành nhu cầu khách quan của sự phát triển và phù hợp với nguyện vọng, tâm lý, tình cảm của cán bộ, nhân dân. Ý Đảng hợp lòng dân. Trong tiến trình đổi mới Trung ương Đảng và Quốc hội đã quyết định chia tách một số tỉnh, trong đó tỉnh ta được tái lập và chính thức hoạt động từ ngày mồng 1 tháng 4 năm 1992. 25 năm rồi đấy! Nguyện vọng là vậy, vui mừng, phấn khởi là vậy nhưng khi thực hiện  bên  cạnh thuận lợi là cơ bản cũng không ít khó khăn. Thuận lợi cơ bản nhất là truyền thống cách mạng, đoàn kết phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh; có điều kiện để khai thác, phát huy những tiềm năng, thế mạnh to lớn trong tỉnh; có điều kiện để đổi mới và phát triển về mọi mặt, lại có thêm “động lực” tạo khí thế mới, quyết tâm mới trong cán bộ, nhân dân. Khó khăn nhất lúc này là phải tổ chức, sắp xếp lại bộ máy cán bộ từ đầu trong khi đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, vừa không đồng bộ. Chỗ làm việc, phương tiện hoạt động của các cơ quan, chỗ ở của cán bộ và gia đình từ Nam Định chuyển về rất khó khăn. Song với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, khí thế mới, quyết tâm mới của cán bộ, nhân dân; với tâm nguyện “Ninh Bình ơi con đã về đây. Cùng nhau chung sức dựng xây Ninh Bình…” ngay từ đầu và trong 25 năm qua tỉnh nhà đã tạo được những chuyển biến mạnh mẽ.

Nổi bật nhất, ấn tượng nhất, rõ nét nhất 25 năm qua là thời kỳ phát triển và đổi mới nhanh nhất, mạnh nhất, ấn tượng nhất về mọi mặt của tỉnh nhà từ trước tới nay. Không có thời kỳ nào trước đây có sự đổi mới và phát triển nhanh, mạnh và ấn tượng như vậy. Điều này thì ai cũng có thể cảm nhận được vì đây là sự thật hiện hữu. Từ chỗ nền kinh tế ở điểm xuất phát thấp, là một tỉnh nghèo, thuần nông, công nghiệp nhỏ bé, manh mún, phân tán, lạc hậu, hiệu quả thấp (như nhận định của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 12 sau khi tỉnh tái lập). Thu ngân sách năm 1992 chỉ có 39 tỷ đồng đến năm 2016 đã thu gần 7.300 tỷ, tăng gấp 181,6 lần. Đây là một trong những chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nhất, ấn tượng nhất, phản ánh tổng quát nhất sự phát triển nền kinh tế tỉnh nhà trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, tăng trưởng tích cực mà nổi bật là đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp, doanh nhân và đội ngũ công nhân ở khắp các vùng trong tỉnh, bước đầu hiển hiện một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được tái cơ cấu gắn với phát triển dịch vụ, du lịch, khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh nhà. Quần thể núi đá, hang động Tràng An hoang sơ đã trở thành Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới. Nông nghiệp cũng đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Đời sống nhân dân được nâng lên về mọi mặt. Có những thứ cách đây 25 năm chưa dám nghĩ tới thì nay đã thành hiện thực phổ biến trong cuộc sống hàng ngày cả ở thành thị và nông thôn, nâng cao mức sống, chất lượng sống của nhân dân.

Cùng với cả nước, đây là những thành tựu rất quan trọng và to lớn không phải chỉ là do tái lập tỉnh mà cơ bản là thành tựu của công cuộc đổi mới. Song tái lập tỉnh đã tạo nên khí thế mới, tình cảm mới, động lực mới, quyết tâm mới; với quy mô tỉnh vừa phải và có những điều kiện mới để khai thác, phát huy truyền thống lịch sử và cách mạng, những tiềm năng, thế mạnh, nội lực thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của tỉnh nhà, nhất là những năm đầu sau khi tái lập. Đặc biệt từ một thị xã nhỏ bé, đặc trưng nổi bật một thời là những lò vôi đốt băng than qua lửa, mang tiếng là “thị xã 4b” (bụi, bẩn, buồn, bực) nếu như không tái lập tỉnh, không trở thành trung tâm tỉnh lỵ thì chắc chắn thành phố Ninh Bình không thể đổi mới và phát triển cả về quy mô và tốc độ, cả về bề rộng và chiều cao, không thể có tầm vóc, vị thế và diện mạo như ngày nay. Đó là điều chắc chắn!

Thành quả nổi bật thứ hai là về tổ chức, cán bộ. Sau 16 năm hợp tỉnh đội ngũ cán bộ phải bố trí, sắp xếp lại từ đầu, vừa thiếu, vừa yếu, vừa không đồng bộ. Trong số cán bộ từ Hà Nam Ninh chuyển về chỉ vẻn vẹn có 1 phó bí thư Tỉnh ủy, 2 ủy viên Thường vụ, 6 tỉnh ủy viên, 1 phó chủ tịch UBND, 1 phó chủ tịch HĐND, 8 trưởng và 19 phó các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Nhiều cơ quan không có cán bộ lãnh đạo và không có cả cán bộ, nhân viên. Các cơ quan của Tỉnh ủy chỉ đủ 35% biên chế. Sau khi tái lập chỉ trong thời gian ngắn đã kiện toàn Bí thư, 2 Phó Bí thư,  11 ủy viên Thường vụ, 36 tỉnh ủy viên, chủ tịch, các phó chủ tịch HĐND, UBND, 34 trưởng, 45 phó các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh; 5 bí thư, 6 phó bí thư thường trực, 5 chủ tịch các huyện, thị xã (do phải điều động cán bộ từ huyện, thị xã lên tỉnh). Thế rồi qua 25 năm kiện toàn, bổ xung, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng đến nay đội ngũ cán bộ của tỉnh đã phát triển lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng (tuy có thể cũng còn mặt này mặt khác cần quan tâm) nhưng nói chung, cơ bản đảm bảo hoàn thành tốt các mặt hoạt động. Có thể khẳng định rằng nếu như không có tái lập tỉnh thì chắc chắn không có đội ngũ cán bộ như hôm nay, và do đó nhiều người đã chưa hoặc không có điều kiện gánh vác trọng trách và trách nhiệm như đã và đang đảm nhiệm. Đó là điều chắc chắn. Đây vừa là kết quả, sản phẩm của tái lập tỉnh vừa là nguyên nhân của những thành quả trong 25 năm qua dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và trí tuệ, công sức của cán bộ, nhân dân trong tỉnh.

Trong điều kiện rất khó khăn về mọi mặt trong buổi đầu tái lập. Bộ máy mới. Cán bộ thiếu. Trụ sở các cơ quan tạm bợ, một thời gian khá dài ở nhờ tại các nhà tạm của huyện Hoa Lư và thị xã Ninh Bình. Kinh phí hạn hẹp chỉ có 5,7 tỷ đồng để sửa sang, quét vôi ve nơi làm việc tạm của các cơ quan. Phương tiện thiếu thốn, thô sơ. Tài sản, phương tiện làm việc ở nhiều cơ quan chỉ có mỗi chiếc điện thoại quay tay. Nhiều cơ quan thậm chí không có cả điện thoại, máy đánh chữ. Nhưng với động lực mới và trách nhiệm trước Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh những người được giao trách nhiệm lúc ấy đã hết sức cố gắng, háo hức, hồ hởi, hăng hái chung sức, chung lòng, đoàn kết xây dựng quê hương. Mọi cán bộ đều nghiêm túc chấp hành sự bố trí, phân công của tổ chức, không thấy có chạy chọt, kèn cựa, né tránh, thắc mắc, dựa dẫm, ỷ lại, tranh chức, tranh quyền. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, các cơ quan phải vận chuyển từ Nam Định về nhưng không hề thấy xảy ra trường hợp nào lợi dụng, tham nhũng, lãng phí tài sản, công quỹ mặc dù đời sống mọi người lúc ấy rất khó khăn, thiếu thốn hơn rất nhiều so với ngày nay. Ngay từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII sau tái lập tỉnh các định hướng cơ bản được xác định về cơ bản phù hợp với điều kiện của tỉnh nhà và là tiền đề để tiếp tục bổ sung, phát triển trong các đại hội Đảng bộ tỉnh từ đó đến nay.

Tuy nhiên do các yếu tố khách quan và chủ quan, do năng lực và tầm nhìn có hạn cũng có thể còn có những việc cần làm nhưng chưa làm được hoặc làm chưa tốt, thậm chí có khuyết điểm đã ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển, nhất là về công tác tổ chức, cán bộ, về quy hoạch xây dựng.

Dù còn nhiều khó khăn, nhưng hiện nay thuận lợi hơn rất nhiều so với những năm đầu tái lập tỉnh. Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, tỉnh nhà vẫn còn nhiều tiềm năng, nguồn lực, dư địa, lợi thế, nội lực để tiếp tục đổi mới và phát triển nhanh hơn, mạnh hơn về mọi mặt. Phát huy những kết quả đã đạt được trong 25 năm tái lập, tin rằng Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà tập trung sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, đăc biệt quan tâm công tác xây dựng Đảng gắn với thực hiện, làm theo tư tưởng, đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa vì đây chính là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ, thành quả của cách mạng, độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Vấn đề quan trọng là nói đi đôi với làm, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, cấp trên làm gương cho cấp dưới, cấp dưới nghiêm túc thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, dân chủ đi đôi với kỷ cương, cán bộ, đảng viên gương mẫu trước quần chúng, trọng dân, phát huy sức mạnh của toàn dân, của cả hệ thống chính trị như các đồng chí lãnh đạo thường nhấn mạnh thì khó mấy cũng làm được.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: