Bứt phá thu ngân sách sau 25 năm tái lập tỉnh

Email In PDF.

alt

Chặng đường 25 năm không phải là dài, nhưng tốc độ phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của tỉnh kể từ khi tái lập đến nay có những bước tiến nhanh và vững chắc. Trong các chỉ số phát triển KT - XH, số thu ngân sách nhà nước (NSNN) của tỉnh có sự bứt phá đầy ấn tượng, khẳng định hướng phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp với thời kỳ đổi mới và xu hướng hội nhập quốc tế.

Khi tái lập tỉnh Ninh Bình, công tác thu ngân sách những năm đầu thực sự gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu đó là các nguồn thu còn nhỏ, lẻ, manh mún, toàn tỉnh có 44 doanh nghiệp công nghiệp do Nhà nước quản lý, trong đó 39 cơ sở quy mô nhỏ

, trình độ công nghệ lạc hậu, phần lớn thiết bị của các doanh nghiệp thuộc thế hệ trước năm 1960. Nhiều cơ sở sản xuất bằng phương pháp thủ công, năng suất thấp, chất lượng hiệu quả kém. Một số doanh nghiệp nhà nước khi chuyển sang cơ chế thị trường tự hạch toán kinh doanh bộc lộ rõ tình trạng lúng túng trong quản lý; Thiếu năng động, sản xuất thua lỗ kéo dài; Sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiêu thụ khó khăn, thị trường nhỏ, một số doanh nghiệp trong tình trạng “chờ giải thể”. Tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé, phân tán, manh mún. Tốc độ phát triển sản xuất từ năm 1980 đến 1990 tăng bình quân chưa đến 1%. Sản lượng lương thực bình quân chưa đạt 300 kg/người/năm. Thu nhập của người lao động thấp, đại bộ phận nhân dân đời sống còn rất khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn còn lớn. Trong khi đó, tỷ lệ phát triển dân số hàng năm luôn ở mức cao (năm 1991 vẫn ở mức 2,67%). Tổng thu Ngân sách năm 1992 là 38,98 tỷ đồng, trong đó tỷ trọng cơ cấu nguồn thu chủ yếu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp chiếm 58,4 %. Thu - chi ngân sách ở địa phương mất cân đối lớn, thu không đủ chi.

Trong 25 năm qua, thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã lãnh đạo chỉ đạo, các cấp, các ngành thực hiện khá tốt mục tiêu huy động nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội. Trong đó tập trung thực hiện nhóm giải pháp để đẩy mạnh phát triển sản xuất - kinh doanh nhằm tạo nguồn thu lớn, ổn định từ nội lực nền kinh tế của tỉnh. Trong đó, giai đoạn từ 1992-2010: Ưu tiên phát triển công nghiệp theo hướng tập trung vào những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh, xác định sản xuất vật liệu xây dựng là mũi nhọn và xi măng là sản phẩm chủ yếu của sản xuất công nghiệp. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.Thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ, du lịch và xuất khẩu để khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Coi kinh tế du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch.

Giai đoạn từ năm 2010-2016: Quản lý, khai thác hợp lý, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có; Đầu tư xây dựng các khu công nghiệp mới. Xây dựng và thực hiện tốt các quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm công nghiệp, trong đó ưu tiêu thu hút các dự án có công nghệ cao, công nghệ sạch thuộc các lĩnh vực điện tử, điện lạnh, ô tô, cơ khí, bia, chế biến hàng hóa nông sản...Phát triển kinh tế du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế. Phát triển đồng bộ các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch. Nâng cao chất lượng phục vụ của các tour, tuyến, khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh. Chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống gắn với điểm du lịch và sản xuất hàng xuất khẩu; Phát triển mạnh các loại hình thương mại và các ngành dịch vụ có lợi thế và có giá trị tăng cao.

Cùng với đó, tỉnh đã chú trọng thực hiện nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Với phương châm đồng hành cùng doanh nghiệp, những năm qua, tỉnh đã tích cực triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích đầu tư đặc thù của địa phương đối với từng trường hợp cụ thể thuộc các loại hình doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, doanh nghiệp có số nộp ngân sách lớn.

            Các ngành, các cấp theo nhiệm vụ quản lý, tổ chức theo dõi, đánh giá tác động khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, diễn biến giá cả thị trường, ảnh hưởng thuận lợi, khó khăn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có số nộp ngân sách lớn, kịp thời đề xuất các giải pháp tạo điều kiện hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

            Cơ quan thuế tổ chức thực hiện tốt việc miễn, giảm, giãn thuế đúng, đủ theo quy định của pháp luật và các chính sách hiện hành nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng; đồng thời, tổ chức thu đúng kịp thời các khoản thu theo chính sách pháp luật thuế mới ban hành hoặc sửa đổi; Xử lý nhanh, đúng quy định của nhà nước về xóa, miễn, gia hạn và giãn nợ các khoản thuế khi doanh nghiệp gặp khó khăn.

            Các cơ quan, đơn vị Nhà nước trên địa bàn đẩy mạnh việc cải cách hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính liên quan đến các doanh nghiệp và người dân, tạo điều kiện thuận lợi nhất, đơn giản, nhanh gọn, hiệu quả trong giải quyết những thủ tục hành chính với các doanh nghiệp và người dân.

Bên cạnh đó, tỉnh cũng thực hiện các chính sách thu hút đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế để tạo nguồn thu vững chắc, lâu dài cho NSNN.  Tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư; hằng năm tổ chức các Hội nghị xúc tiến đầu tư nhằm kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đầu tư ở các lĩnh vực tạo ra giá trị sản phẩm hàng hóa lớn, có nguồn thu lớn như lắp ráp điện tử, điện lạnh, ô tô, cơ khí, bia, chế biến hàng hóa nông sản...

            Tìm ra các giải pháp kêu gọi đầu tư có hiệu quả nhất, tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp tạo mọi điều kiện để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư trên địa bàn; Cải cách thủ tục, đơn giản thủ tục đầu tư, giải quyết nhanh, gọn các thủ tục hành chính; thủ tục thuê đất, cấp đất, quy hoạch,... Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch cho nhà đầu tư.

25 năm qua cũng cho thấy, việc điều hành ngân sách của tỉnh được thực hiện sâu sát và quyết liệt, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng năm. Ngành Thuế, Hải quan đã triển khai sâu rộng các chính sách, pháp luật về thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện; Tích cực phối hợp với UBND các huyện, thành phố và các sở, ban, ngành liên quan trong việc tăng cường quản lý thu ngân sách, nhất là với những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp trọng điểm. Đồng thời, Cục Thuế tỉnh chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện  các giải pháp về quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý thuế gắn với cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức thuế trong thực thi công vụ.

Để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa của các ngành trong khối tài chính được quan tâm. Ngành Thuế, Hải quan triển khai đồng bộ các chương trình cải cách, hiện đại hóa đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính phê duyệt, đặc biệt là các quy định, hướng dẫn liên quan nhằm giảm số giờ kê khai, nộp thuế cho người nộp thuế. Cơ quan Kho bạc Nhà nước đẩy mạnh ứng dụng hiện đại hóa trong quá trình thực hiện ủy nhiệm thu NSNN cho các ngân hàng thương mại trên địa bàn nhằm hỗ trợ người nộp thuế thuận lợi nhất, bảo đảm số thuế nộp ngân sách được tổng hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời. Chi cục Hải quan đưa vào áp dụng thành công hệ thống thông quan tự động và cơ chế một cửa quốc gia, đây được coi là một trong những giải pháp thu hút đông đảo các doanh nghiệp về làm thủ tục hải quan tại Ninh Bình. Ngành Thuế đã đưa nhiều ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế như: Ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS), nộp thuế điện tử. Bước cải tiến quan trọng này vừa tiết kiệm thời gian, vừa hạn chế sự can thiệp, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ thuế với doanh nghiệp trong quá trình kê khai, tính thuế, đồng thời giúp người nộp thuế tiết kiệm được thời gian và chi phí, cơ quan Thuế giảm nguồn lực và tiết kiệm chi phí quản lý hành chính.

Sau 25 năm tái lập tỉnh, Ninh Bình đã có sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực trong số đó, không thể không kể đến thành tựu thu ngân sách trên địa bàn đã đạt đỉnh cao mới. Thời điểm tái lập tỉnh năm 1992, tổng thu ngân sách trên địa bàn mới chỉ đạt gần 40 tỷ đồng, trong đó: Thuế sử dụng đất nông nghiệp chiếm khoảng 58%; Thuế khu vực kinh tế quốc doanh chiếm 20%; Thuế Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 10,6% cơ cấu nguồn thu ngân sách. Sau 10 năm từ khi tái lập tỉnh số thu ngân sách năm 2002 tăng gấp 3 lần, đạt 116 tỷ đồng, tỷ trọng cơ cấu nguồn thu đã có nhiều thay đổi như: Thuế khu vực kinh tế quốc doanh chiếm 32,6%; Thuế Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 21,6%. Thuế sử dụng đất nông nghiệp chỉ còn chiếm 8,9% cơ cấu nguồn thu ngân sách.

             Đặc biệt, trong hơn 10 năm trở lại đây nhờ những bước tiến quan trọng về phát triển kinh tế và những chủ trương và giải pháp quyết liệt, đồng bộ, khai thác triệt để các nguồn thu, đến năm 2010 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.100 tỷ đồng. Năm 2016 số thu ngân sách đạt mốc kỷ lục mới khi cán đích 7.264 tỷ đồng, tăng gấp 181,6 lần so với thời kỳ mới tái lập tỉnh vào năm 1992. Đây cũng là năm tổng thu ngân sách của tỉnh đạt mức cao nhất từ trước đến nay, đánh dấu một năm nổi bật, một mốc son, đỉnh cao mới trong công tác thu ngân sách, tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

            Với sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBDN tỉnh và sự cố gắng, nỗ lực của ngành thuế, những kết quả quan trọng đạt được trong công tác thu ngân sách trong suốt 25 năm kể từ khi tái lập tỉnh là tiền đề, động lực để thời gian tiếp theo Ninh Bình tiếp tục thực hiện nhiều mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế xã hội.