Giới thiệu

Một lần về với xứ Ba Đèo - Hoàng Lâm

Email In PDF.

altTháng Tám. Chớm thu. Nắng vàng như mật! Cuộc Hội thảo: "Sáng tác văn học trẻ, gắn với giữ gìn, phát huy sắc thái văn hóa địa phương" vừa kết thúc tốt đẹp, các anh chị em văn nghệ sỹ của mười tỉnh phía Bắc lại rất háo hức khi nghe nhà thơ Bình Nguyên - Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Ninh Bình thông báo: “Chiều nay, mời các anh chị vào thăm Tam Điệp, một vùng đất cổ, nơi có rất nhiều nét lịch sử, văn hóa độc đáo. Hy vọng đó là những gợi ý tốt cho những tác phẩm của các anh chị!”

Đón chúng tôi ngay tại sảnh lớn của Nhà Văn hóa Trung tâm thành phố Tam Điệp có các đồng chí: Dương Đức Đằng, Phó Bí thư Thành ủy - Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Hà Ngọc Triệu, Ủy viên Thường vụ Thành ủy - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng nhiều lãnh đạo các ban phòng thành phố. Cùng ra đón đoàn chúng tôi có đông đảo các văn nghệ sỹ của Chi hội Văn học- Nghệ thuật thành phố mà chúng tôi đã ít nhiều quen biết như họa sỹ Kim Đức Thạo - Chi Hội phó, các nhà văn Trần Duy Đới, Nguyễn Đăng Trình, Ngô Xuân Hành, Phạm Đức Hoàn, nhà thơ Vũ Đức Thanh… Những cái bắt tay cùng những cái ôm rất chặt!

Sau màn “chào hỏi” rất ngắn gọn giữa chủ và khách, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân đân thành phố Hà Ngọc Triệu mở đầu buổi giao lưu bằng bài giới thiệu khái quát về Tam Điệp “xưa và nay”. Không văn bản, không giấy tờ, trong chừng hơn mươi phút, với giọng nói truyền cảm, anh đã vẽ nên trước mắt chúng tôi bức tranh đa màu sắc với những nét chấm phá khá ấn tượng về đất và người Tam Điệp. Đó là nơi có con đường Thiên Lý đi qua, nơi có đèo Ba Dội và bài thơ cùng tên đầy gợi cảm của Bà Chúa Thơ Nôm - Hồ Xuân Hương. Đó là vùng đất “ma thiêng nước độc” Quán Cháo - Đồng Giao được phản ánh qua tiểu thuyết “Ai hát giữa rừng khuya” và tấm bia “Nghĩa chủng bi ký”, mô tả những cảnh tượng kì vĩ, thâm u và khắc nghiệt, từng là nơi giao tranh ác liệt các triều Trịnh - Nguyễn, là nỗi sợ hãi của bao thế hệ người Việt, qua hai câu ca: “Ai qua Quán Cháo Đồng Giao. Má hồng để lại, xanh xao mang về!”. Đó là nơi đất trời ban cho các dải núi đá vôi “tầng tầng lớp lớp” như một bức tường thành thiên nhiên để có thể lập nên phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn theo kế sách của các tướng Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm và “Kiến trúc sư” Ninh Tốn… Từ bàn đạp này, dưới sự chỉ huy của người Anh hùng dân tộc, vị Thống soái tài ba “trăm trận trăm thắng” Quang Trung - Nguyễn Huệ, năm cánh quân thủy bộ Tây Sơn đã thần tốc tiến ra Thăng Long, làm nên cuộc phản công chiến lược “hiếm có” trong lịch sử dân tộc, nhanh chóng đập tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh, giải phóng hoàn toàn đất nước vào mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Đây cũng là nơi Quân đoàn 1- Binh đoàn cơ động dự bị chiến lược đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam đặt Đại bản doanh. Và sau hết, từ một thị trấn nghèo, năm 2015, Tam Điệp đã được công nhận là thành phố - thành phố đầu tiên của khu vực Đồng bằng Sông Hồng không phải là trung tâm tỉnh lỵ, là nơi tụ cư của hơn mười vạn dân bao gồm con em của 53/63 tỉnh thành trong cả nước. Một chút hóm hỉnh, anh nói: Tam Điệp như một cô gái đang tuổi thanh xuân! Vì vậy, không biết tự bao giờ, hai câu ca “đầy ám ảnh” khi xưa đã được người dân đổi thành câu hát đầy tự hào: “Ai về Tam Điệp, Đồng Giao. Môi hồng thêm thắm, má đào thêm xinh!” Cả khán phòng ồ lên vỗ tay tán thưởng. Hỏi ra mới biết Phó Chủ tịch vốn là một giáo viên. Anh từng có nhiều năm gắn bó với các thế hệ học sinh, sinh viên và cũng như bao người khác, từ quê hương Yên Dũng, Bắc Giang, anh đã chọn Tam Điệp làm nơi “đất lành chim đậu”. Nhà văn Ngô Xuân Hành - nguyên Chi hội Trưởng Chi hội VHNT Thành phố dường như muốn phác họa thêm đôi nét về “người” Tam Điệp bằng bài thơ cùng tên với những câu thơ tự do, phóng khoáng như chính con người anh vậy: “…Người Tam Điệp thuở xưa/ Vào Thung Lang nhóm lửa/ Lên Núi Vàng hái quả/ Ra cửa bể Thần Phù/ Tìm con ốc, con sò/ Đi suốt thời tiền sử…”. Sau khi nhà thơ Ánh Tuyết - Q. Chủ tịch Hội VHNT Thái Bìnhthay mặt Đoàn phát biểu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Dương Đức Đằng nói lời cảm ơn các văn nghệ sỹ đã đến với Tam Điệp đồng thời trân trọng mời Đoàn đi thăm một vài nơi dù thời gian không nhiều. Thân mật và chân tình, anh nói: Trăm nghe không bằng một thấy!.

Mở đầu chuyến đi, đoàn chúng tôi đến đặt hoa và thắp hương trước tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tượng đài được đặt trang trọng trong khuôn viên Bảo tàng Thành phố. Đây chính là nơi Bác nói chuyện với cán bộ công nhân Nông trường Đồng Giao, một trong những nông trường được thành lập sớm nhất (12-1955) của miền Bắc sau giải phóng. Hôm ấy, (20-7-1960) là một buổi sáng đẹp trời, Bác Hồ giản dị trong bộ quần áo nâu bằng vải lụa Hà Đông, đầu đội mũ cát và chân đi đôi dép cao su quen thuộc, gần gụi và thân thương như người ông, người cha về với cháu, con. Bác tự tay xách chiếc ghế từ trong nhà khách ra hành lang rồi ngồi xuống trò chuyện rất thân mật với mọi người. Rồi Bác lên xe xuống thăm một số cơ sở sản xuất như đội Trại Vòng, đội Chăn nuôi (thời kỳ đó, nông trường nuôi tới 4.000 con bò). Bác đã xuống cả nhà ăn của công nhân, tới lớp mẫu giáo... Bác đến chỉ có vài tiếng đồng hồ mà cho tới tận bây giờ, những hình ảnh và lời nói của Bác còn in đậm trong trái tim cán bộ và công nhân nông trường.

Họa sỹ Kim Đức Thạo, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thể thao kiêm Giám đốc Bảo tàng thành phố kể lại cho chúng tôi câu chuyện thú vị mang tính tiên tri: Trong lúc trò truyện, có một số cán bộ nguyên là bộ đội miền Nam tập kết thưa với Bác xin cho được trở về quê hương chiến đấu. Bác cười và chỉ tay vào dãy núi Tam Điệp rồi vui vẻ nói: “Bác hiểu lòng các chú. Nhưng đừng có vội. Ngày xưa vua Quang Trung trước khi tiến quân giải phóng Thăng Long cũng đã phải có một thời gian tập kết ở đây để chuẩn bị. Việc các chú đang làm đây là cũng có ý nghĩa như vậy. Rồi sẽ đến ngày chúng ta - như vua Quang Trung xưa, hành quân đi giải phóng miền Nam!...”

Lịch sử đã có sự trùng lặp vô cùng kỳ thú. Vào mùa xuân năm Ất Mão (1975), từ mảnh đất Tam Điệp, được lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Quân đoàn 1 đã thực hiện một cuộc hành quân “thần tốc” chẳng kém cuộc hành quân của Vua Quang Trung ngày trước. Chỉ trong vòng 12 ngày đêm, Quân đoàn đã vượt qua chặng đường dài hơn 1.700 km, hình thành mũi tiến công trên hướng Bắc Sài Gòn, đập nát Sư đoàn 5 ngụy, đánh chiếm Bình Dương và Bộ Tổng Tham mưu ngụy, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đúng như sự tiên đoán và mong đợi của Bác Hồ kính yêu!

Qua trụ sở Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, đoàn xe chở chúng tôi theo con đường rợp bóng mát bởi những hàng bạch đàn, keo tai tượng vươn cao, đi độ hai ki lô mét thì đến đội Khe Gồi. Giữa một màu xanh ngút ngát trải dài đến tận rặng núi xa xa, các khoảnh dứa, ngô ngọt, lạc tiên… được trồng thành hàng lối đều tăm tắp, lên xanh mơn mởn; ở đó luôn thấp thoáng bóng nón trắng của các bà, các cô đang chăm sóc cây hay thu hoạch quả, chúng tôi tưởng như đang lạc vào chốn “Bồng Lai tiên cảnh” nào đó. Những tay máy chuyên nghiệp và không chuyên thi nhau bấm tanh tách. Nhà văn Nguyễn Đăng Trình, nguyên là Trưởng phòng Kế hoạch của Nông trường Đồng Giao, khoát tay: Đây chỉ là khu vực một đội thôi, nếu đi hết thì phải cả ngày. Anh kể: Công ty đã cổ phần hóa theo Nghị định 135/CP do vậy đất sản xuất cơ bản đã được các hộ công nhân thuê lâu dài. Trong sự liên kết “4 nhà”, nhiều khâu đã được các hộ tự chủ song Công ty vẫn quản lý và chỉ đạo một số khâu quan trọng như giống cây trồng, xây dựng hạ tầng và bao tiêu sản phẩm. Ví như năm 2010, Công ty bỏ ra 50 tỷ đồng nhập dây chuyền tưới nước theo công nghệ nhỏ giọt của Israel cho 200 ha và xây dựng hệ thống tiêu úng cho 300 ha cây trồng của đội Bãi Sải. Đầu năm 2016, Công ty lại nhập dây chuyền chế biến ngô ngọt tự động (công suất 4 tấn/giờ) và dây chuyền làm lạnh rau quả IQF (công suất 2 tấn/giờ) hiện đại của Nhật Bản. May mắn, không hẹn mà chúng tôi lại gặp Giám đốc - Kỹ sư Đinh Cao Khuê ngay chân một vạt dứa; anh cũng vừa đi kiểm tra một cơ sở sản xuất về. Sự năng động, quyết đoán và tự tin của một người “đứng mũi chịu sào” một doanh nghiệp thời mở cửa đã hiện rõ khi anh trả lời câu hỏi của chúng tôi về sản phẩm và doanh thu của Công ty. Anh cười rất tươi: Không có gì phải giấu các nhà văn! Sản phẩm trước đây chủ yếu là dứa, giờ đây khách hàng có thể chọn các sản phẩm vải, lạc tiên, ngô ngọt, ngô rau, dưa chuột…Tất cả được chế biến trên dây chuyền công nghệ hiện đại. Với thương hiệu DOVECO, thị phần trong nước chiếm tới 50% trở lên, riêng ngô ngọt chiếm đến 80%; ở ngoài nước đã xuất khẩu sang 40 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có một số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU… Còn doanh số: trong nước đạt từ 80 đến 100 tỷ VND/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 15 triệu USD/năm. Tính chung khoảng 600 tỷ VND/năm. Mục tiêu của Công ty trong ngắn hạn là có mặt trong “Câu lạc bộ các doanh nghiệp đạt mức doanh thu ngàn tỷ đồng”. Nghe đến đây, một người trong đoàn nói: Có lẽ đây là một trong số ít những công ty có thương hiệu và doanh thu lớn như vậy của ngành chế biến, xuất khẩu rau quả ở Việt Nam ta!  

Rời Khe Gồi, nơi thứ hai đoàn chúng tôi đến thăm là Lũy Quèn Thờ. Trưởng phòng Văn hóa Thông tin Thành phố Nguyễn Đình Hùng nói với tôi: Những dấu tích đồn, lũy, luyện quân, cất giữ lương thảo… của “Phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn” hiện còn khá nhiều; lũy Quèn Thờ chỉ là một trong số đó. Con đường lên lũy sau hơn hai trăm năm (kể từ năm 1789) tuy vẫn còn khá hoang vu song đã được mở rộng, rải bê tông và nằm cách con đường mòn cũ về bên trái khoảng hai trăm mét. Theo con đường mòn, chúng tôi lên đỉnh quèn, trên đó có một ngôi đền. Nhà văn Nguyễn Đăng Trình cho biết: Đây là đền thờ thần Cao Sơn (Thần Núi), xưa vốn là một miếu nhỏ, do những người tiều phu dựng lên ở phía dưới quèn để mong được Thần che chở và phù hộ... Khi Quang Trung đến đây quan sát địa thế để đắp lũy, nhà vua đã đến viếng và cầu thần giúp sức. Sau chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đã tạ ơn Thần, cho sửa sang lại và chuyển đền lên đỉnh quèn. Tôi và anh Trình đã quen biết nhau từ hồi dự trại của Liên hiệp ở Tuyên Quang. Anh biết Hán - Nôm, tuy không nhiều. Anh đọc cho chúng tôi nghe đôi câu đối trên đền: Cựu chỉ trùng di kim Kỷ Dậu/ Quy Sơn cố lục tự Hùng Vương. Tạm dịch nghĩa là:Năm Kỷ Dậu chuyển di nền cũ. Dấu thiêng liêng tự thưở Vua Hùng. Dưới con mắt của một nhà quân sự, nhà văn Trần Duy Đới (nguyên là Phó Trưởng phòng Khoa học Quân sự Quân đoàn 1) chỉ chúng tôi ba lớp lũy từ ngoài vào trong, từ dưới thung lên sườn núi, thứ tự là lũy Chẹn, lũy Đệm, lũy Đền và nhận xét: Phòng tuyến Tam Điệp nói chung và Lũy Quèn Thờ nói riêng là sự kết hợp đặc biệt tài tình giữa tự nhiên và con người. Như ở đây, các bạn thấy trong chiều dài khoảng 500 mét của thung người ta đã chọn ra chỗ hẹp nhất, buộc phải đi qua và dựng tới ba chiến lũy; điều đó tạo nên chiều sâu trong phòng ngự cũng như sự kiên cố của phòng tuyến. Chạm tay vào lũy Đền (cách mặt đất chừng 16m) - một đoạn lũy đã trải bao năm tháng nay còn lại hơn chục mét với những tảng đá xây chắc chắn, chúng tôi như còn nghe đâu đây tiếng reo hò vang dậy của đoàn binh Tây Sơn!.

Càng đi sâu vào phía trong, chúng tôi càng gặp rất nhiều thung có sức chứa hàng nghìn, thậm chí đến hàng vạn người. Các văn nghệ sỹ đều trầm trồ: Có đi mới biết được sự huyền bí và kỳ vĩ của phòng tuyến này cũng như nhãn quan chiến lược của các nhà cầm quân xưa nay! Chúng tôi cũng thấy phần lớn các thung nay đã được cải tạo thành các trang trại theo mô hình VAC, trồng hoặc nuôi các loại cây, con có giá trị kinh tế cao như bưởi, cam, na, xoài, gà đồi, nhím, dê núi... Ra khỏi các thung, nơi địa hình khá bằng phẳng thì hầu như chỉ có một loại cây “đặc sản”, đó là đào phai. Biết tin có đoàn văn nghệ sỹ đến thăm, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Đông Sơn Ngô Văn Dần đón chúng tôi ngay tại làng đào Mùa Thu. Anh nói: Cây đào phai ở đây có lịch sử đặc biệt lắm. Bà con khắp vùng vẫn truyền nhau câu chuyện tình của đôi trai tài gái sắc. Chuyện kể rằng: Giáp Tết Nguyên đán Kỷ Dậu (1789), trước khi xuất quân đi đánh Thăng Long, Vua Quang Trung đã tự tay chọn và cho người mang một cành đào phai Tam Điệp về kinh thành Phú Xuân, tặng người vợ yêu - Ngọc Hân công chúa. Sau ngày chiến thắng, khi ông trở lại kinh thành, cành đào vẫn nở rực như biểu tượng của một tình yêu xuân sắc và viên mãn. Anh Dần cho biết: Những năm gần đây, tận dụng thế mạnh về khí hậu, thổ nhưỡng và sức lao động cần cù, cây đào phai của Tam Điệp nói chung, của Đông Sơn nói riêng đã trở thành thương hiệu, có chỗ đứng, đã và đang góp phần không chi xóa đói giảm nghèo mà còn làm giàu cho không ít người dân xứ Ba Đèo.

Rời làng đào chúng tôi rẽ sang sân gôn Hoàng Gia cách đó không xa. Con đường nhựa phẳng lỳ lượn theo bờ hồ Yên Thắng chạy thẳng lên nhà khách được xây trên trên một quả đồi cao. Từ ban công nhìn ra bốn phía, chẳng ai bảo ai mà những tiếng trầm trồ cứ tự nhiên thốt ra: Ôi đẹp quá! Tuyệt vời! Thật đắc địa! Thật hữu tình! Một bên là trời nước mênh mang, một bên là những vạt đồi thoai thoải được cải tạo, trồng cỏ ngoại xanh mướt với những hố cát trắng to nhỏ khác nhau cùng những hốc (lỗ) gôn được đánh dấu bằng những cây cờ nhỏ. Trên các con đường bê tông chạy ngoằn ngoèo giữa các ô sân, các cô cát-dy (phục vụ gậy, bóng…) lái xe điện vun vút, cô nào cũng xinh xắn, ăn mặc đẹp. Ở đó đang có khá nhều khách chơi. Anh Nguyễn Xuân Núi, Trưởng phòng kinh doanh sân gôn cho chúng tôi biết: Dự án sân gôn Hoàng Gia  có tổng diện tích 670 ha với 54 lỗ, vốn đầu tư 103 triệu USD, vòng đời dự án 69 năm. Hiện tại, đã hoàn thành 18 lỗ theo tiêu chuẩn quốc tế, khai trương và đi vào kinh doanh từ năm 2010. Anh mời chúng tôi xuống chơi thử vài “gậy”. Một số anh chị em mạnh dạn xuống “thử” song đa phần là vụt không trúng bóng hoặc có trúng thì bóng lại bay chệch hướng! Đây là môn thể thao thời thượng mới du nhập vào Việt Nam độ chục năm nay, người chơi hiện tại chủ yếu là các “đại gia” hoặc con cái đại gia, tóm lại là những người có nhiều tiền. Mà chúng tôi - các văn nghệ sỹ, chủ yếu là nghèo nên không biết chơi và chưa biết chơi là điều dễ hiểu. Nhà văn Đinh Ngọc Lâm đã ân cần chỉ bảo cho chúng tôi biết từng loại gậy "gôn", hướng dẫn cách đặt bóng, đánh bóng, thế đứng sao cho đúng luật.

Buổi tối, bữa cơm thật là vui. Nhà hàng ven hồ thơ mộng. Cả chủ và khách nhanh chóng bỏ qua những xã giao khách sáo, cùng quây quần bên nhau với chén rượu ngon và những lời tâm huyết. Ai cũng mong với tất cả những tiềm năng, thế mạnh của Tam Điệp (mà không phải nơi nào cũng có) sẽ được khai thác và phát huy để thành phố ngày một tiến nhanh, tiến xa hơn nữa. Rồi cùng nhau đọc thơ, cùng nhau hát về Tam Điệp, về các miền quê… Rồi cuồi cùng… khi những ca từ sâu lắng, thiết tha của bài hát “Người ơi người ở đừng về” do nữ thi sỹ Kim Oanh người Kinh Bắc và Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Mai Lương Tá cất lên thì tất cả mọi người cùng đứng dậy hòa theo như thay lời hẹn hò, tạm biệt. Cảm ơn đất và người Tam Điệp! Cảm ơn xứ Ba Đèo! Hẹn một ngày trở lại!

Cập nhật ngày Thứ ba, 11 Tháng 10 2016 01:49